Biển Đông 2018: Tưởng lắng dịu nhưng vẫn đầy nguy hiểm

Trung Quốc luôn muốn chi phối Biển Đông, đặc biệt khi Mỹ giảm ảnh hưởng trên Biển Đông và trật tự thế giới thay đổi theo hướng lợi cho Trung Quốc.

Đó là khẳng định của Ths Hoàng Việt, giảng viên Đại học Luật TP.HCM, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông khi ông đưa ra những nhận định về tình hình Biển Đông năm 2018.

PV: – Mới đầu năm 2018, Trung Quốc đã khuấy động Biển Đông với cáo buộc Mỹ vi phạm “chủ quyền lãnh thổ” khi tàu chiến Mỹ áp sát bãi cạn Scarborough, điểm nóng tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines, với lời đe dọa sẽ triển khai thêm quân ở Biển Đông để “bảo vệ hòa bình”.

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đưa tàu hậu cần quân sự 961 xuống hoạt động tại khu vực Trường Sa; vận hành tàu nổi không người lái (USV) Huster-68 nhằm xây dựng lực lượng hải quân có thể hoạt động ở vùng biển khơi, hỗ trợ an ninh hàng hải của nước này.

Trước đó, vào cuối năm 2017, Trung Quốc đã đồng ý với ASEAN về việc bắt đầu thảo luận về khung Bộ Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC).

Thưa ông, hai xu hướng nói trên có trái ngược nhau hay không? Và ông lý giải như thế nào về những hoạt động đầu năm 2018 của Trung Quốc? Nó có phù hợp với cảnh báo của chuyên gia quốc tế về việc Trung Quốc sẽ ép các nước ở Biển đông năm 2018? Xin ông phân tích cụ thể.

Ths Hoàng Việt: – Hai xu hướng này không mâu thuẫn với nhau. Việc Trung Quốc chấp nhận với ASEAN để hai bên có thể tìm được tiếng nói chung trong COC là có thật nhưng bản COC này khác.

Cách đây vài năm, ASEAN đã thông qua bản COC đầu tiên – bản do Indonesia soạn thảo, trong đó có đưa ra ràng buộc về mặt pháp lý. Đây là bản COC mà chúng ta mong đợi nhưng Trung Quốc đã không chấp nhận bản này.

Trong bản dự thảo khung mà Trung Quốc và ASEAN thống nhất vừa qua chỉ mang tính chất hơn DOC một chút xíu, nó chỉ là một tuyên bố chính trị và không có cái nào cụ thể, không đưa ra được một ràng buộc pháp lý với Trung Quốc.

Bien Dong 2018: Tuong lang diu nhung van day nguy hiem 
Tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Hopper của Mỹ tới gần bãi cạn Scarborough vào tháng 1/2018

Mà tại sao Trung Quốc lại chấp nhận COC? Đó là vì bản COC này không khá hơn so với DOC. Thứ hai, sau khi Trung Quốc đã hoàn tất các hạng mục trên cấu trúc Trường Sa và cả Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền thì Trung Quốc đã có thế mạnh rồi.

Khi Trung Quốc có thế mạnh thì nước này không muốn các quốc gia như Việt Nam, Philippines phát triển, bồi lấp các đảo như vậy, cho nên Trung Quốc muốn sử dụng COC như một biện pháp để kiềm chế các quốc gia khác.

Thứ ba, chính sách của Trung Quốc không hề thay đổi, họ chỉ chọn những cách khác nhau mà thôi. Trung Quốc vẫn luôn luôn muốn chi phối toàn bộ Biển Đông, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi cường quốc Mỹ ngày càng suy giảm ảnh hưởng trên khu vực Biển Đông và trật tự thế giới đang thay đổi theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Vì thế, một mặt, Trung Quốc dùng COC để đánh bóng hình ảnh với thế giới, tỏ vẻ với thế giới rằng Trung Quốc xuống thang ngồi với ASEAN nhưng với các nước ASEAN, giờ đây Trung Quốc đã chia rẽ rất nhiều, một số nước đang có chiều ngả về Trung Quốc.

Ở mặt khác, trong thực tế, Trung Quốc vẫn củng cố hiện diện ở Biển Đông. Khi tàu chiến của Mỹ áp sát bãi cạn Scarborough, Trung Quốc phản đối rất mạnh mẽ.

Tín hiệu đó khác với trước đây. Trước đây, Trung Quốc chỉ phản đối chiếu lệ, còn bây giờ Trung Quốc cảm thấy đã đủ sức mạnh nên họ phản đối quyết liệt để cho thấy quyết tâm của Trung Quốc trong trường hợp này.

Vì vậy, mục đích của Trung Quốc không có gì thay đổi và tình hình Biển Đông nhìn có vẻ lắng dịu nhưng bên trong nó vẫn đầy nguy hiểm.

PV: – Trong bối cảnh đó, một công ty của Mỹ đã được quyền tự do tìm kiếm máy bay MH 317 theo sự chấp thuận của phía Malaysia. Theo đường chính thức, Mỹ đã bắn đi các tín hiệu không thể nhầm lẫn về sự trở lại ở Biển Đông bằng những tuyên bố và cam kết bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông và hiện thực hóa bằng việc điều tàu tuần tra ở Biển Đông.

Như vậy, sự trở lại Biển Đông của Mỹ ở mức độ nào và nó sẽ tác động như thế nào đến các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông?

Ths Hoàng Việt: – Trước hết, phải khẳng định rằng Mỹ vẫn là một cường quốc mạnh nhất về hải quân trên thế giới. Nếu không có Mỹ, khó có quốc gia nào có thể kiềm chế tham vọng biển của Trung Quốc, đặc biệt là trên Biển Đông.

Thế nhưng, khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền thì chính quyền của ông cũng có nhiều vấn đề trong chính sách nội bộ. Việc từ chức của Giám đốc FBI liên quan đến việc điều tra ông Trump liên quan đến việc rò rỉ thông tin tình báo của Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Mỹ vẫn đang là một thách thức.

Ông Donald Trump đưa ra chính sách đối ngoại là American first, tức Nước Mỹ trước tiên. Vì ông Trump là một thương gia nên ông chỉ tập trung vào những vấn đề liên quan đến lợi ích thương mại ngay lập tức, trước mắt và dù sao Trung Quốc vẫn là một đối tác đầy ghê gớm. Cuối năm 2017 lãnh đạo hai nước đã ký hợp đồng rất lớn.

Vì vậy, một mặt, chính quyền của Tổng thống Trump vẫn lên tiếng khẳng định Biển Đông là cần thiết, Mỹ sẽ tiếp tục các hoạt động tuần tra tự do hàng hải tại vùng biển này và thực tế là Mỹ cũng đã cho một số tàu tuần tra ở khu vực Trường Sa của Việt Nam.

Nhưng chừng ấy là không đủ để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc. Nó đòi hỏi Mỹ phải có những hành động mạnh mẽ hơn, nhưng Mỹ lại chưa tiến hành những hoạt động ấy.

Tổng thống Trump tuyên bố không cho Trung Quốc làm như vậy nhưng câu hỏi đặt ra là ông làm thế nào để không cho Trung Quốc tiếp cận đảo? Ông Trump mới chỉ nói mà không đưa ra phương án và như vậy rất khó có khả năng khả thi và đó chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị chứ không phải tuyên bố mang tính đích thực.

Trung Quốc hiểu được giới hạn trong việc can dự của Mỹ vào Biển Đông thế nào và Trung Quốc đã triệt để khai thác nó.

PV: – Theo ông, cục diện biển Đông trong năm 2018 sẽ thế nào? Việt Nam và ASEAN nên làm gì để đối phó với sự lấn lướt của Trung Quốc tại khu vực này?

Ths Hoàng Việt: – Biển Đông yên ả hay dậy sóng phần lớn phụ thuộc vào hai tay chơi Trung Quốc và Mỹ. Nhưng vẫn có phần phụ thuộc vào lựa chọn và cách ứng xử của các nước nhỏ trong khu vực.

Nếu 10 quốc gia trong ASEAN đồng lòng, có sức mạnh đoàn kết thì Trung Quốc cũng phải ngại phần nào. Nhưng bản thân ASEAN cũng đang gặp phải thách thức và thách thức này đang chia rẽ nội bộ ASEAN. ASEAN đang chia thành những nước có lợi ích liên quan đến Biển Đông và những nước không có lợi ích trực tiếp liên quan đến Biển Đông, ngay cả khi có lợi ích trực tiếp thì các nước cũng có hướng đi khác nhau.

Ví dụ, trước đây, Việt Nam và Philippines cùng một mặt trận nhưng giờ đây đã có sự thay đổi. Dưới thời Tổng thống Aquino, ông đã quyết định đưa vụ kiện Biển Đông ra tòa và phiên tòa là một thắng lợi rất lớn của Philippines. Nhưng đến thời Tổng thống Duterte, ông thậm chí không nhắc tới phán quyết của phiên tòa và ông còn mời Trung Quốc thăm dò khu vực biển Beham Rise.

Như vậy, bản thân ASEAN cũng có những vấn đề nội tại và nếu ASEAN có tiếng nói mạnh mẽ thì Trung Quốc cũng phải dè chừng phần nào.

Các quốc gia trong khu vực phải hợp tác với nhau và hợp tác với bên ngoài, không chỉ với Mỹ mà với cả những nước quan tâm đến tình hình Biển Đông, như Ấn Độ, Úc, Nhật, Pháp, Canada…

Việt Nam thì một mặt vẫn phải giữ quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc vì Trung Quốc là láng giềng và rất mạnh, mặt khác vẫn phải bảo vệ lợi ích của mình ở Biển Đông.

Thành Luân/ Báo Đất Việt

(Visited 110 times, 1 visits today)

Comments

comments